Hoạt động của ADB tại Việt Nam | Asian Development Bank

Hoạt động của ADB tại Việt Nam

Đối tác trong Cải cách kinh tế, Đối tác trong Phát triển đồng đều

Việt Nam đã trải qua công cuộc cải cách kinh tế toàn diện trong các thập niên 1980 - 1990, và ADB đã duy trì quan hệ đối tác trong suốt quá trình đôi khi đầy thách thức này. Ngày nay, Việt Nam là một quốc gia thu nhập trung bình thấp, với những bước tiến vượt bậc trong phát triển kinh tế và xã hội.

Việt Nam đã trở thành một thành viên sáng lập của ADB năm 1996, và trong thập niên đầu tiên của quan hệ đối tác hai bên, đã có hơn 20 dự án được triển khai. Sau một thời kỳ gián đoạn hoạt động từ năm 1978 tới 1993, ADB đã quay lại Việt Nam với một sự nhiệt thành mới.

Trong thập niên 1980, Việt Nam đã tiến hành công cuộc Đổi mới để cải tổ một loạt chính sách kinh tế trên phạm vi rộng. Trong thập niên 1990, ADB đã ủng hộ Việt Nam chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế định hướng thị trường, và cung cấp hỗ trợ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo, và duy trì phát triển bền vững.

Hỗ trợ của ADB trong thời kỳ này tập trung vào khôi phục, phát triển và mở rộng cơ sở hạ tầng vật chất; cải cách chính sách kinh tế; huy động các nguồn lực trong nước; và thúc đẩy các dịch vụ xã hội. Lồng ghép quản trị nhà nước hiệu quả và bình đẳng giới trong các dự án là một ưu tiên cụ thể.

Xây dựng các tuyến kết nối mạnh

Cao tốc Long Thành - Dầu Giây, TP. Hồ Chí Minh
Cao tốc Long Thành - Dầu Giây, TP. Hồ Chí Minh

Ngay từ khi khôi phục hoạt động tại Việt Nam trong thập niên 1990, ADB và Chính phủ Việt Nam đã sớm nhận thấy rằng hệ thống đường sá xuống cấp của đất nước sẽ cản trở các kế hoạch nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế định hướng thị trường với đầu tư làm động lực, vốn rất cần thiết để tạo việc làm và giảm nghèo.

Những hoạt động ban đầu chủ yếu liên quan tới nâng cấp cơ sở hạ tầng của các tuyến quốc lộ trọng yếu và cải thiện một số tuyến đường chọn lọc ở các huyện và xã. Đường tỉnh cũng được cải tạo để cung cấp tiếp cận tới các thị trường, tỉnh lỵ và mạng lưới đường quốc lộ, cũng như kết nối người dân nông thôn.

Từ khi khôi phục hoạt động vào năm 1993 cho tới năm 2008, tỷ lệ giải ngân vốn vay lớn nhất của ADB cho Việt Nam là dành cho lĩnh vực giao thông. Có hơn 30 dự án giao thông đã được triển khai trong giai đoạn này. Kết quả là khoảng 1.000 ki-lô-mét (km) quốc lộ, 4.000km tỉnh lộ và đường tuyến huyện, 2.100km đường nông thôn và hàng trăm cây cầu nhỏ đã được cải tạo.

Tăng trưởng mạnh mẽ

Tác động kinh tế của hệ thống giao thông được cải thiện, bên cạnh một loạt các cải cách kinh tế trên phạm vi rộng, đã trở nên rõ rệt trong thập niên 2000. Tăng trưởng kinh tế trung bình đạt mức cao là 7,4%/năm trong giai đoạn 1998 – 2007, trong khi tỷ lệ nghèo khổ giảm từ 35% năm 2000 xuống còn 16% trong năm 2006.

Trong 25 năm kể từ khi bắt đầu công cuộc cải cách, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ ấn tượng, chuyển đổi từ một nước nghèo thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất ở Châu Á.

Việt Nam giờ đây được xếp loại là quốc gia thu nhập trung bình thấp. Tính chất hỗ trợ của ADB do vậy cũng thay đổi theo. Trọng tâm giờ đây tập trung vào hỗ trợ “tài chính++”, tức là cung cấp tài chính, chia sẻ tri thức, và tạo đà thúc đẩy các nguồn tài trợ khác, gồm cả khu vực tư nhân.

"ADB luôn đồng hành cùng Việt Nam như một đối tác đáng tin cậy trong các giai đoạn phát triển của đất nước trong suốt 20 năm qua. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới ADB và các nhà tài trợ khác. Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng quan hệ hợp tác này sẽ tiếp tục được tăng cường sâu rộng hơn nữa."

Nguyễn Thị Hồng
Phó Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Các con thuyền ở Phong Nha, được hỗ trợ từ Dự án Phát triển du lịch bền vững Tiểu vùng Mê-kông mở rộng
Các con thuyền ở Phong Nha, được hỗ trợ từ Dự án Phát triển du lịch bền vững Tiểu vùng Mê-kông mở rộng

Kết nối với các quốc gia láng giềng

Việt Nam đã tích cực tham gia Chương trình Hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mê-kông mở rộng, được thiết lập năm 1992 với sự hỗ trợ của ADB. Với nguồn hỗ trợ từ ADB và các nhà tài trợ khác, chương trình đã hỗ trợ các dự án ưu tiên của tiểu vùng trong những lĩnh vực giao thông, năng lượng, viễn thông, môi trường, phát triển nguồn nhân lực, du lịch, thương mại, đầu tư khu vưc tư nhân, và nông nghiệp.

Một chuyến đi dọc theo tuyến đường cao tốc dài nhất Việt Nam – cao tốc Nội Bài-Lào Cai, được đưa vào hoạt động tháng 9/2014 và là một phần trong dự án hành lang kinh tế Bắc - Nam do ADB hỗ trợ – cho thấy một con đường có thể tác động ra sao tới hiệu quả kinh tế của một quốc gia. Tuyến đường thu phí này nối liền Thủ đô Hà Nội tới tận biên giới với Trung Quốc ở Lào Cai, dài 244km theo hướng tây bắc, rút ngắn thời gian đi lại từ 7 tiếng xuống còn chỉ 3 tiếng.

Ông Đỗ Minh Thuấn, Sở Giao thông Vận tải tỉnh Yên Bái, nói rằng số phương tiện sử dụng đường cao tốc đã tăng hơn 100% so với năm ngoái, lên tới 19.000 lượt mỗi ngày. Sở này cũng ghi nhận tỷ lệ tai nạn giao thông giảm 60% trong nửa đầu năm 2015 so với cùng kỳ năm 2014.

Các cửa hàng, quán cà phê và khách sạn mới đã đua nhau mọc lên dọc theo tuyến đường, trong khi du lịch và thương mại xuyên biên giới cũng gia tăng.

Tuyến đường cao tốc này, cùng với hệ thống điện, mạng viễn thông và các trạm thu phí, đã được xây dựng trong tám năm, với nguồn vốn do ADB cung cấp là hơn 1 tỷ USD.

ADB đã hỗ trợ hai hành lang kinh tế Tiểu vùng Mê kông mở rộng khác giúp kết nối Việt Nam với các quốc gia láng giềng trong khu vực: Hành lang kinh tế phía Nam, kết nối các thành phố và thị xã lớn ở khu vực phía nam của tiểu vùng; và Hành lang kinh tế Đông - Tây, trải dài 1.320km từ Cảng Đà Nẵng ở bờ biển phía Đông của Việt Nam tới tận bờ Ấn Độ Dương của Mi-an-ma. Các hành lang kinh tế bao gồm một loạt dự án bổ trợ, thường nằm dọc theo một tuyến đường trọng yếu.

Nhất quán với trọng tâm là các giải pháp giao thông đô thị xanh hơn, ADB cũng đang giúp cung cấp các dịch vụ đường sắt đô thị sạch và hiệu quả cho 14 triệu người dân của hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh, và giúp thúc đẩy các thành phố đáng sống và thích ứng hơn với biến đổi khí hậu.

Giúp đỡ những người cần hỗ trợ

Một trạm khám chữa bệnh lưu động ở huyện Đắkrông, tỉnh Quảng Trị
Một trạm khám chữa bệnh lưu động ở huyện Đắkrông, tỉnh Quảng Trị

ADB cũng hỗ trợ trực tiếp cho những người cần được giúp đỡ nhất, bao gồm người dân ở các cộng đồng nông thôn Tây Nguyên của Việt Nam.

Rất nhiều người dân ở các cộng đồng này trước đây thường tìm kiếm sự chữa trị y tế từ các thầy lang, thầy mo không qua đào tạo. Họ thích các loại thuốc lá cây hơn thuốc men hiện đại. Niềm tin rằng bệnh tật là do ma làm rất phổ biến, và nó làm trầm trọng thêm sự thiếu hiểu biết về các nguy cơ sức khỏe do điều kiện vệ sinh kém.

Những quan niệm này đã thay đổi, một phần nhờ Dự án Chăm sóc Y tế cho người dân Tây Nguyên do ADB hỗ trợ, theo như lời của bà Nguyễn Thị Luyến, một y tá làm việc trong khu vực.

Trong khuôn khổ dự án này, các cán bộ y tế đã thành lập một trung tâm thông tin - giáo dục - truyền thông tại bệnh viện để nâng cao nhận thức về lợi ích của các biện pháp chăm sóc y tế hiện đại. Mỗi thôn bản ở các khu vực lân cận đều có ít nhất một cán bộ y tế, và các y tá được tập huấn về những kỹ thuật quản lý chăm sóc người bệnh.

Bà Luyến cho biết từ khi những biện pháp này được triển khai, báo cáo của các cộng đồng địa phương đều cho thấy tỷ lệ bệnh tật và tử vong trẻ sơ sinh giảm đi.

Bà Nguyễn Thị Ven, Giám đốc Sở Y tế Kon Tum thuộc khu vực dự án, phát biểu: “Dự án cũng đã tập huấn cho các cán bộ y tế ở tuyến thôn bản và nâng cao tay nghề cho các bác sĩ, cung cấp phương tiện vận chuyển và các công trình xử lý nước thải, cũng như hỗ trợ theo rất nhiều cách khác. Dự án này có ảnh hưởng rất lớn tới tỉnh của chúng tôi.”

Bài viết này được đăng lần đầu trong một ấn bản đặc biệt của báo cáo nhan đề “Together We Deliver” (tạm dịch “Cùng nhau mang lại thay đổi”), tập hợp 50 câu chuyện nêu bật tầm quan trọng của quan hệ đối tác hiệu quả ở Châu Á và Thái Bình Dương trong việc giải quyết các thách thức phát triển phức tạp của khu vực năng động này.